Vùng Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế với diện tích tự nhiên hơn 50 nghìn km2, dân số khoảng 10 triệu người, gần 6 triệu người trong độ tuổi lao động, được đánh giá là vùng có nền kinh tế giàu tiềm năng. Vùng Bắc Trung Bộ nằm kề bên vùng kinh tế trọng điểm Bắc  Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trên trục giao thông Bắc Nam về đường sắt, nhiều đường ô tô hướng đông tây (7,8,9,29) nối Lào với biển Đông. Có hệ thống sân bay (Vinh, Đồng Hới, Phú Bài), bến cảng (Nghi Sơn, Cửa Lò, Cửa Hội, Vũng Áng, Sơn Dương, Cửa Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Thuận An, Chân Mây...), có các đầm phá thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy hải sản, là trung tâm du lịch quan trọng của đất nước (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế...) tạo điều kiện cho viêc giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Mianma...

     Tiềm năng thì như vậy, nhưng các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa biết tận dụng những tiềm năng của mình trong thu hút đầu tư và phát triển kinh tế. Do đó, tính đến tháng 9/2015 toàn khu vực Bắc Trung Bộ mới chỉ có 243 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng giá trị đầu tư đăng ký khoảng 19,9 tỷ USD, chiếm gần 10% vốn đăng ký FDI của cả nước. Đây là con số khá nhỏ so với tiềm năng của Vùng.

     Để thấy rõ những tiềm năng và cơ hội thuận lợi cũng như những thách khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế biển, từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển của vùng đất này trong thời gian tới, sáng ngày 03 tháng 04 năm 2017 tại Phòng Hội thảo - 353 Trần Hưng Đạo - Nam Định, Khoa Quản trị kinh doanh đã tiến hành tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Thúc đẩy phát triển kinh tế biển ở các tỉnh Bắc Miền Trung Việt Nam hiện nay”.

     Tham dự Hội thảo có đông đảo các Giảng viên, Sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh, đại diện Phòng Quản lý khoa học và các khách mời đến từ: Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Chi cục Thủy Hải Sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Nam Định, Cảng vụ hàng hải - Sở Giao thông vận tải Tỉnh Nam Định, Sở Tài nguyên Môi trường Tỉnh Nam Định

     Mở đầu Hội thảo, Th.S Trần Mạnh Hùng thay mặt Ban tổ chức đã có bài phát biểu đề dẫn, trong đó nhấn mạnh: Việt Nam là một trong những nước có lợi thế về biển, có vị trí địa lý thuận lợi nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng biển sâu, có điều kiện để phát triển hàng hải, hàng không, du lịch biển, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản… vì nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng của khu vực và thế giới. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước ta ngày nay không chỉ có phần lục địa tương đối nhỏ hẹp “hình chữ S” với chiều dài bờ biển 3.260 km  mà còn có cả vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấp hơn ba lần diện tích đất liền. Dọc bờ biển có hơn 100 cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển. Vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc và Tây Nam. Hiện nay cả nước có 28 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có biển (trong đó có 10 tỉnh và thành phố có hải đảo, quần đảo) với tổng diện tích 208.560km2 chiếm 41% diện tích cả nước và 41, 2 triệu dân, chiếm gần một nửa dân số Việt Nam. Khai thác biển cho phát triển kinh tế là một cách làm đầy hứa hẹn, mang tính chiến lược và được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Xuất phát từ những tiềm năng, lợi thế của biển đảo và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh và môi trường biển, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu lên từ biển theo hướng phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP; 55-60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện thêm một bước đáng kể đời sống cho nhân dân vùng biển và ven biển. Tuy vậy, có thể đánh giá một cách tổng thể, sự phát triển của kinh tế biển, đảo ở nước ta vẫn còn chưa xứng tầm với các điều kiện và lợi thế sẵn có. Quy mô kinh tế biển của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD, trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước đạt 1.300 tỷ USD. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của hoạt động kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải, du lịch biển. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, thông tin liên lạc... bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô mới chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo tuy đã được quan tâm đầu tư mới nhưng còn yếu kém. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, mạng lưới tàu thuyền, trang thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn; các cảng biển, mạng lưới vận tải đường không ở các vùng ven biển và trên một số đảo còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu. Bên cạnh đó, hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Việc phát triển kinh tế biển trong thời gian qua chưa thực sự được quan tâm đầy đủ, nhiều địa phương, các ngành, các cấp, cư dân ven biển vẫn còn thờ ơ với hoạt động bảo vệ môi trường, tái tạo nguồn tài nguyên và những tác động của biến đổi khí hậu liên quan đến sự phát triển bền vững của kinh tế biển, đảo. Ngành du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển - đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có các khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế. Đối với các lĩnh vực như chế biến sản phẩm dầu, khí, chế biến thủy, hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển hiện chủ yếu mới ở mức đang bắt đầu xây dựng, mới hình thành và quy mô còn nhỏ. Ngay như khai thác hải sản và nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, vốn được xem là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển, đảo, đóng góp đáng kể vào tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu, tạo việc làm cho người dân, nhưng hoạt động khai thác đánh bắt xa bờ quy mô còn nhỏ lẻ. Trình độ và hoạt động khai thác tài nguyên, các lợi thế của biển và hải đảo vẫn đang ở tình trạng lạc hậu so với khu vực. Nói cách khác, Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thực sự phát huy được nhiều thế mạnh, tiềm năng của biển, đảo và vẫn chưa phải là quốc gia mạnh về biển.

     Do vậy, Hội thảo hôm nay tập trung chủ yếu vào việc phân tích làm rõ vai trò của kinh tế biển dưới góc độ quốc gia cũng như với các Tỉnh Bắc Trung Bộ. Trên cơ sở phân tích những tiềm năng, lợi thế cũng như thực trạng phát triển kinh tế biển trong thời gian qua, các báo cáo tham luận sẽ đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế biển trong thời gian tới. Thông qua Hội thảo này cũng sẽ giúp cho các đại biểu, các Giảng viên và Sinh viên thấy rõ hơn những nội dung xoay quanh chủ đề của Hội thảo, đồng thời cũng giúp cho mỗi người có được những bài học kinh nghiệm qua việc hiểu rõ hơn cách thức nghiên cứu, tiếp cận các vấn đề của nền kinh tế từ đó xác định những nhiệm vụ của mình và định hướng cho bản thân trong thời gian tới ở những cương vị khác nhau.

     Tiếp theo phát biểu của Th.S Trần Mạnh Hùng, các Giảng viên, Sinh viên trong Khoa và các khách mời đã có bài phát biểu tham luận nhằm làm rõ nội hàm của các vấn đề có liên quan đến chủ đề của Hội thảo dưới những cách tiếp cận khác nhau như: Tổng quan về phát triển kinh tế biển; Phát triển kinh tế hàng hải; Phát triển kinh tế diêm dân; Phát triển du lịch biển; Phát triển đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; Bài học về thúc đẩy và phát triển du lịch biển ở Hải Hậu - Nam Định; Kinh nghiệm thúc đẩy và phát triển du lịch biển ở Nam Định; Phát triển cảng biển ở các Tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay; Giải pháp phát triển khu du lịch biển Sầm Sơn - Thanh Hóa theo hướng bền vững trong thời gian tới.

    Tổng kết Hội thảo, Th.S Phạm Anh Tuấn đã điểm lại những kết quả quan trọng mà buổi Hội thảo đã đạt được, trong đó nhấn mạnh: Các tham luận mà đại diện các nhóm nghiên cứu đã trình bày và nhiều ý kiến phát biểu bổ sung có chất lượng đã giúp cho các Giảng viên và Sinh viên có thêm kinh nghiệm trong việc nghiên cứu và trình bày một báo cáo khoa học, đồng thời bổ sung thêm những kiến thức lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế biển của nước ta hiện nay. Các tham luận và trao đổi của các đại biểu tại Hội thảo đã chỉ ra được một cách căn bản những cơ hội cũng như những thách thức đặt ra đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế biển của Việt Nam trong thời gian tới. Trên cơ sở đó đã đề xuất được một số nhóm giải pháp và kiến nghị đối với các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước các cấp nhằm giúp cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong các ngành thuộc kinh tế biển có thể tận dụng được những cơ hội thuận lợi cũng như vượt qua những thách thức đặt trong quá trình phát triển ở những năm tới. 

     Hội thảo khoa học của Khoa Quản trị kinh doanh đã thành công tốt đẹp trong không khí trao đổi sôi nổi, cởi mở và hào hứng giữa các Giảng viên, Sinh viên và khách mời. Tiếp theo các Hội thảo trước đó, Hội thảo khoa học lần này là một trong những sự kiện thường niên được Khoa Quản trị kinh doanh tổ chức định kỳ nhằm tạo ra cơ hội để các Giảng viên và Sinh viên trong và ngoài trường có thể chia sẻ những thông tin, kiến thức liên quan đến các học phần chuyên ngành của Khoa, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của Khoa Quản trị kinh doanh nói riêng và Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp nói riêng.

     Dưới đây là một số hình ảnh về buổi Hội thảo

Th.S Phạm Anh Tuấn - Phó chủ nhiệm Khoa phát biểu chỉ đạo Hội thảo

Th.S Trần Mạnh Hùng - Chủ trì Hội thảo phát biểu đề dẫn 

Các đại biểu trình bày tham luận tại Hội thảo

Tham luận của Ông Nguyễn Viết Cách - Giám đốc vườn Quốc gia Xuân Thủy 

Toàn cảnh Hội trường diễn ra Hội thảo

Bài và Ảnh: Nguyễn Viết Bình